
Đầu tuần này, nhà văn Phạm Tín An
Ninh, từ thành phố nắng ẩm ven biển Alicante
của Tây Ban Nha, nơi anh chị đang sống với
gia đ́nh cháu Nội để trốn mùa băng tuyết
tại Na Uy, đă gởi tặng BBT YKHHN một bài
viết mới của anh, kèm theo lời tâm t́nh sau đây “Nhân
tháng 3, để nhớ ngày bỏ lại Pleiku, và
tưởng niệm những huynh đệ bỏ ḿnh trên
Tǐnh Lộ 7 B, ḿnh xin góp bài THÁNG 3 -XIN TẠ LỖI
PLEIKU.
Xin được nhắc lại Cuộc di tản vào
đầu tháng 3, 1975, tại Pleiku, mở đầu cho
thảm họa tan ră của Miền Nam VN.
Xin quư Anh Chị Em cùng thắp nén hương ḷng
tưởng nhớ và cầu nguyện cho hương
hồn Bao đồng đội, chiến hữu Miền
Nam Việt Nam chúng ta đă gục ngă trên mọi nẻo
đường đất nước.
BBT trân trọng cảm t́nh Đặc biệt anh Phạm
Tín An Ninh dành cho Hội YKHHN. Thân mến chúc anh chị có
những ngày hạnh phúc ấm cúng bên nhau.
Tháng Ba – xin tạ lỗi Pleiku
Phạm Tín An Ninh

Thật ḷng, tôi không có nhiều gắn bó với Pleiku. Và dường như cái phố núi buồn hiu ấy đă cho tôi nhiều nỗi buồn hơn là niềm vui. Vậy mà khi đă xa -thực sự vĩnh viễn xa- Pleiku rồi, tôi lại thấy da diết nhớ, trăn trở với cái cảm giác ḿnh có tội với Pleiku, và măi măi sẽ c̣n nợ phố núi này một lời xin lỗi.
Tôi chưa (và có thể không) có dịp về thăm lại Pleiku, nên cái xa cách ấy lại càng thấy mịt mùng. Cái phố núi vốn đă bé nhỏ, như một ông nhà thơ đă ví von “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy, giờ với tôi dường như chỉ c̣n là chút sương khói trong ḷng. Điều kỳ lạ là chút khói sương mờ ảo ấy cứ luôn lăng đăng trong kư ức và trái tim già cỗi của tôi, như những mảng mù sương từng bao phủ, giăng mắc trên phố núi Pleiku ngày trước.
Nếu không có cuộc chiến Kontum, có lẽ sẽ không có dấu chân nào của tôi trên bùn lầy đất đỏ Pleiku. Dẫu là dấu chân của người lính chiến. Chợt đến chợt đi, hay có khi nằm lại vĩnh viễn trên núi rừng heo hút vô danh. Thống thuộc một đại đơn vị có bản doanh tại Ban Mê Thuột, nhưng đơn vị tôi có hậu cứ tại Sông Mao (Phan Thiết) và đảm trách một vùng hành quân khá rộng lớn dọc theo miền duyên hải. Đúng ngày cuối năm âm lịch 1972, khi cả đơn vị đang chuẩn bị cho quân sĩ ăn Tết tại doanh trại Lư Thường Kiệt - Sông Mao, chúng tôi nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê, thay thế cho một đơn vị của Sư Đoàn 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và tăng cường cho mặt trận B́nh Định, khi một số đơn vị của Sư Đoàn 22BB hoạt động ở đây, vừa di chuyển lên mặt trận Dakto, Tân Cảnh.
Loanh quanh ở An Khê chưa được hai tháng, cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái, đánh vài trận, giải tỏa một số căn cứ của Sư Đoàn Mănh Hổ Đại Hàn nằm dọc trên đèo An Khê bị Cộng quân tạo nhiều ṿng đai vây hăm, đơn vị chúng tôi được lệnh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum. Bộ Tư Lệnh HQ Sư Đoàn 22BB vừa bị tràn ngập tại căn cứ Tân Cảnh và vị Tư Lệnh đă ở lại để vùi thây nơi chiến địa cùng với quân sĩ dưới quyền. Địch quân đang trên đà tràn xuống trong ư đồ chiếm lấy Kontum.
Tôi đến Pleiku như vậy đó. Thời gian chưa đủ nh́n một dăy phố và núi đồi chạy dọc theo con đường dẫn ra phi trường Cù Hanh. Tôi có cảm giác chưa đến th́ đă rời khỏi Pleiku. Hơn tám tháng sống chết với chiến trường và giữ vững Kontum, chúng tôi được kéo về Pleiku dưỡng quân và bổ sung quân số. Đây là phần thưởng đặc biệt cho một đơn vị tạo nên kỳ tích trong trận chiến đẫm máu để có một “Kontum Kiêu Hùng”. Một tháng đóng quân trên Đồi Đức Mẹ. Lại là một tháng “gió lạnh mưa mùa”. Cả núi đồi và thành phố Pleiku mờ mịt và lầy lội trong mưa. H́nh ảnh của bao nhiêu bạn bè đồng đội vừa mới hy sinh trên chiến trường Kontum lúc nào cũng hiện ra trước mặt, đau đớn tựa hồ như những nhát chém c̣n rỉ máu trong ḷng. Muốn tạm quên chốc lát đă là một điều không dễ. Bọn tôi cần được say. Mỗi ngày chỉ ra phố để uống rượu. Thỉnh thoảng đi nhận đám lính bị Quân Cảnh của ông đại úy Hiển bắt. Khi đó tôi đâu có biết ông đồn trưởng Quân Cảnh này là nhà thơ Hoàng Khởi Phong, cũng chịu chơi, nhậu nhẹt, lăng mạn (và vi phạm quân phong quân kỷ?) như ai.
Pleiku có nhiều quán cà phê và nhiều khuôn mặt mỹ nhân, nhưng chúng tôi chỉ chọn các quán rượu. Dường như cà phê không đủ ấm, không đủ để quên, và cái say của rượu cũng chóng phôi pha hơn cái say đàn bà, con gái. Hơn nữa chỉ được có một tháng, mà trước mặt là những trận chiến đẫm máu đang chờ. Chẳng ai muốn vương vấn nợ t́nh.
Riêng tôi c̣n có một anh bạn, Liên Đoàn Trưởng BĐQ trú đóng ở Biển Hồ. Vợ và hai đứa con chết thảm tại Quảng Đức v́ xe bị VC giật ḿn, nên bây giờ anh chỉ làm người t́nh với rượu. Tôi bị anh kéo theo cái ṿng “tục lụy” này.
Lúc trước anh là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong BĐQ, thời gian binh chủng này mới thành lập. Nhưng sau đó do ảnh hưởng từ các phe nhóm chính trị, anh đă bị bắt đi tù một thời gian, ngưng thăng cấp và sau đó chuyển đến đơn vị tôi, với cái lệnh “không được giữ chức vụ chỉ huy nào.” Biết anh là một niên trưởng và từng dạn dày lửa đạn, tôi tận t́nh giúp đỡ an ủi anh. Thời gian sau anh bỗng dưng được “vô tội”, trở lại binh chủng, thăng cấp và chỉ huy một Liên Đoàn BĐQ tại QK2.
Do cái ân t́nh đó, nên những ngày không hành quân, anh đến kéo tôi ra quán rượu. Tôi chỉ nh́n Pleiku qua những cơn say. V́ vậy Pleiku với tôi càng nhỏ hẹp hơn, chỉ là không gian của một quán rượu trong khu Chợ Mới. Một tháng, tôi chưa hề biết tên một con đường, th́ làm sao biết được tên của một mỹ nhân , để “may mà có em đời con dễ thương !”
Đơn vị tôi rời khỏi Pleiku một ngày sau khi thành phố Ban Mê Thuột vừa lọt vào tay giặc. Sáng ngày 13.3.75, những toán quân đầu tiên của đơn vị được trực thăng vận từ Hàm Rồng đổ xuống Phước An, quận lỵ duy nhất c̣n lại của tỉnh Darlac, nằm cách BMT khoảng 30 cây số trên QL 21 về hướng Nha Trang. Khi một nửa đơn vị vừa xuống Phước An, th́ Pleiku có lệnh di tản. Một nửa quân số c̣n lại phải di chuyển theo đoàn quân di tản trên Tỉnh Lộ 7B. Một cuộc triệt thoái sai lầm, tệ hại và bi thảm nhất trong chiến tranh. Nửa đơn vị của tôi gần như bị xóa sổ. Hai người bạn thân của tôi đều là tiểu đoàn trưởng đă tự sát, nhiều đồng đội đă chết trong đớn đau tức tưởi.
H́nh ảnh cuối cùng của Pleiku trong mắt tôi là dăy núi Hàm Rồng, nhưng trong trí óc tôi chỉ c̣n đọng lại những cái chết bi tráng của đám bạn bè đồng đội cùng với những người Pleiku mà tôi chưa kịp biết mặt, làm quen. Và trong ḷng tôi, dường như Pleiku chỉ có thế. Không phải là những con đường, góc phố, là rạp ciné Diệp Kính, Thanh B́nh, hội quán Phượng Hoàng, quán cà phê Dinh Điền, cà phê Văn, cà phê Lính, Bắc Hương, Thiên Lư, và lại càng xa lạ với những ngôi trường mang tên Pleime, Pleiku, Phạm Hồng Thái, Minh Đức, Bồ Đề..mà những cô học tṛ ngày ấy bây giờ đang mang theo cái hồn Phố Núi đi khắp muôn phương. (Giờ nghĩ lại, tôi thấy ḿnh khờ khạo biết bao nhiêu!)
Ngày ấy, tôi là thằng lính bộ binh, một thứ lính “hạng bét”, chỉ có khốn khổ gian truân và chết chóc. Tháng năm lặn lội trong núi rừng, chỉ c̣n biết có súng đạn và mục tiêu trước mặt. Được chút thời gian không đủ cho một cơn say, th́ đâu c̣n biết ǵ tới thơ với thẩn (mặc dù tôi vốn mê thơ - nhưng rất dốt về thơ). Ngoài bài hát nổi danh được phổ từ thơ Vũ Hữu Định, tôi chưa hề được đọc thơ các thi nhân nổi tiếng một thời của Pleiku hay viết về Pleiku. Sau này đọc Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Mạnh Trinh, Kim Tuấn, Nguyễn Xuân Thiệp, Vơ Ư, Cao Thoại Châu, Hoàng Khời Phong…, tôi thấy hối tiếc quá chừng. Pleiku đẹp quá, dễ thương, thơ mộng quá.
Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ một thời hành quân đánh giặc ở Mật khu Lê Hồng Phong, Sông Mao, nơi đơn vị tôi trú đóng, từng viết những câu thơ hào sảng ;
Mai ta đánh giặc ta c̣n sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi,
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
….
cũng từng bị “đày” lên Phố Núi, để nhớ ánh mắt của một nàng thiếu nữ ngày xưa:
Đứng
trên núi thấy hàng đèn thị trấn
Là thấy ḿnh buốt lạnh mấy ngh́n năm
V́ đêm nay trời đất lạnh căm căm
Nên chợt nhớ chút lửa hồng bếp cũ
Nên phải nhớ mắt một người thiếu
nữ
Đă nh́n ḿnh rất ấm một ngày xưa
Dù mai sau ngày nắng tiếp ngày mưa
Nhưng vĩnh cửu chút mơ màng thuở đó
….
Vậy mà hơn một tháng ở Pleiku tôi đă ngu ngơ, lăng phí. Không nh́n ngắm, mơ mộng với Pleiku mà chỉ biết say với rượu. “Ta say, trời đất cũng say.” Tôi đă bắt Pleiku say với tôi, mà đáng lư ra tôi phải say đắm với Pleiku mới phải. Đôi khi tôi cũng tự gạt để an ủi ḿnh “Có thể chính mấy ông nhà thơ này đă làm cho Phố Núi đẹp hơn, thơ mộng và lăng mạn hơn những ǵ nó có?” Nhưng có lẽ tôi đă nhầm, sau này được dịp làm quen với những người Phố Núi, tôi chợt nhận ra rằng Pleiku đâu chỉ có những ông thi sĩ tài danh ấy, mà dường như cứ mỗi người Pleiku đă là một nhà thơ, hay ít nhất cũng là một bài thơ chưa được viết thành lời. Dẫu ǵ, tôi cũng có tội với Pleiku.
Ba năm hành quân ở Kontum và Pleiku, nhiều đồng đội, bạn bè tôi đă nằm lại nơi này. Vơ Anh Tài, Đặng Trung Đức, Trần Công Lâm, Đỗ Bê ... những tiểu đoàn trưởng nổi danh, những người anh, người bạn thân thiết như t́nh huynh đệ cùng một đơn vị từ ngày tôi vừa mới ra trường, đă vĩnh viễn ở lại với Kontum, với Pleiku. Khi tất cả -có lẽ cũng như tôi- chưa biết rơ mặt Pleiku cùng những vần thơ tuyệt vời ca tụng phố núi thơ mộng một thời.
Tôi vẫn măi đau đớn khi h́nh dung cuộc di tản bi thảm trên Tỉnh Lộ 7B vào những ngày giữa tháng 3. Cùng với những đồng đội của tôi, c̣n có biết bao nhiêu người Pleiku đă không đi hết đoạn đường kinh hoàng đẫm máu ấy. Trong đó chắc chắn có rất nhiều “em Pleiku má đỏ môi hồng” của nhà thơ Vũ Hữu Định, những bông hoa dại đă làm cho những thằng lính “bị đày” lên phố núi thấy đời dễ thương hơn. Thiếu những bông hoa ấy, Phố núi sẽ không c̣n đẹp, không c̣n lăng mạn, để cho bao thi nhân cảm xúc, để cho nhà thơ Không Quân Vơ Ư vẫn măi c̣n tiếc nhớ khôn nguôi một thời “Xưa Trên Đó”:
Xưa
trên đó sương nḥa hơi thở đượm
dốc cũng vừa ta bước xuống vô biên
mê cho lắm cho tay dài với mộng
mặt trời lên chiếu rạng tới ưu phiền
…
Một dạo bay qua nh́n qua trên đó
đồi như vương cây như vấn chân nàng
phố cũng xưa và tim th́ đau nhói
quạt nồng đâu qua đó để cơ hàn…”
Chúng tôi ra đi, cũng (rất vô t́nh) bỏ lại các cô gái Thượng. Những cô gái chân chất hồn nhiên mà đẹp đẽ như những cánh lan rừng. Họ mới thực sự là những người chủ Phố Núi, nên không đành bỏ núi đồi, buôn bản. Và chắc không hề biết đă từng là niềm vui, là nỗi khát khao của những thằng lính trẻ xa nhà, khi rủ nhau ẩn nấp sau những gốc cây, bờ đá để nh́n (trộm) các cô vô tư khoe ḿnh bên các ḍng suối biếc. Tuyệt vời!
Thuở ra đi, ḷng dạ rối bời, chưa kịp nhận ra những điều gắn bó, giờ hồi tưởng, trong ḷng bỗng chợt dấy lên bao nỗi bâng khuâng.
Th́ ra, tôi đă mắc nợ phố núi quá nhiều. Nợ những người đă ở lại với Pleiku trong cơn đổi đời khốn khó, nợ người Pleiku nằm lại đâu đó trên tỉnh lộ 7B kinh hoàng, và nợ cả những người Pleiku ra đi mang theo bóng dáng mờ ảo mù sương và cả cái hồn Phố Núi.
Nợ ân t́nh th́ không thể nào trả cho hết được. Đành xin mượn mấy ḍng này xin tạ lỗi Pleiku.
Phạm Tín An Ninh