Biến cố Mậu Thân 1968 ở Huế qua tác phẩm “Quyền Bính” của Huy Đức

 

Huy Đức (Osin Trương Huy San) (1) là tác giả bộ sách “Bên Thắng Cuộc”, gồm hai cuốn. Cuốn 1 với tựa đề “Giải Phóng”, cuốn 2 với tựa đề “Quyền Bính”. Trong cuốn 2, ở “Chương 15: Tướng Giáp”, từ trang 151 đến trang 162, tác giả viết về biến cố Mậu Thân năm 1968 với tiểu đề “Mậu Thân và tham vọng của Lê Đức Thọ”. Tác giả tŕnh bày chi tiết cuộc tấn công miền Nam năm 1968 đă được tiến hành như thế nào, ai là người lên kế hoạch, bao nhiêu lính miền Bắc tham gia cuộc tấn công này, ai là người trực tiếp chỉ huy, kết quả của cuộc tấn công, yếu tố chính trị trong cuộc tấn công này, những tác động tâm lư xảy ra sau đó lên quần chúng Việt Nam, Hoa Kỳ, thế giới. Ở đây, bài này xin được nhắc lại về những ǵ xảy ra ở Huế trong thời gian đó, đặc biệt là chuyện “chôn sống” người ở Huế năm 1968.

Tác giả Huy Đức viết như sau (2):

“Ở Huế: Khoảng 2:40, một tiểu đoàn đặc công người Huế, 2 trung đoàn bộ binh người miền Bắc và một tiểu đoàn hỏa lực tràn vào chiếm Thành. Trong 6 ngày đầu của cuộc tấn công, Đại tá Tỉnh trưởng Thừa Thiên Phạm Văn Khoa (3) phải trốn trên xà nhà của một bệnh viện. Quân Giải phóng đă trụ được 26 ngày và một số ngày trong khoảng thời gian này, cờ xanh - đỏ - sao vàng (4) đă được kéo lên cột cờ cao nhất ở Huế.

Nhưng, Huế đă bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn của cả đôi bên: 14.000 thường dân chết; 24.000 dân thường bị thương, chưa kể gần 3.000 lính Sài G̣n và lính Mỹ; 627.000 người dân mất nhà mất cửa. Có nhiều người Huế đă bị bắt đi, bị thủ tiêu. Huế, đă trở thành một biểu tượng khiến cho khi nói về Mậu Thân, người dân miền Nam đă nghĩ ngay đến màu tang tóc. Ở miền Tây, theo Đại tướng Phạm Văn Trà: “Tiểu đoàn chúng tôi, ngày xuất quân với 7 đại đội đủ quân, xấp xỉ một ngh́n tay súng, sau khi kết thúc đợt 1, chỉ c̣n trên một trăm cán bộ, chiến sĩ. Có tiểu đoàn, khi đánh vào Cần Thơ bộ đội ngồi chật cả trăm xuồng, khi ra chỉ vài chục chiếc, mỗi chiếc chở vài ba anh em. Đành rằng, trong chiến tranh, không phải lúc nào cũng lấy việc ‘đếm xác’ của hai bên trên chiến trường để kết luận sự thắng bại; nhưng để tổn thất lớn là điều chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ; đặc biệt đối với chúng tôi là những người cầm quân trên chiến trường… Tôi nhớ khi đó anh em trong đơn vị đă truyền nhau mấy câu lục bát: Ṿng cung đi dễ khó về/ Đạn chen đầu đạn, bom kề hố bom; Hay là: Tưởng là lên lộ đi xe/ Ai ngờ trở lại không ghe, không xuồng. Chủ nhân của mấy câu lục bát ấy, một phóng viên mặt trận, bị phát hiện và chịu nhận h́nh thức cảnh cáo” (Phạm Văn Trà, Hồi kư Đời Chiến sĩ, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân 2009, trang 142-143).

Trên thực tế chiến trường, Cuộc Tổng công kích và khởi nghĩa đă bị nghiền nát. Tài liệu kiểm điểm của Khu ủy Khu IX, nơi ông Vơ Văn Kiệt làm Bí thư từ năm 1970, viết: Do “chăm bẵm vào khả năng giải phóng hoàn toàn”, Khu ủy đă tập trung toàn lực, tấn công vào đầu năo đô thị. Quân đội Mỹ và Sài G̣n, nhân cơ hội ấy, tiến hành “B́nh định đặc biệt”, “B́nh định cấp tốc” ở vùng nông thôn, gom dân vào ấp, cán bộ đảng viên bị dạt ra khỏi dân. Quân đội Sài G̣n đóng thêm 1000 đồn bót. Trong số 250 xă Miền Tây Nam Bộ, cuối năm 1968, có 50 xă, đảng viên phải ly hương; 40 xă khác, chỉ c̣n một hoặc hai đảng viên. Các trung đoàn chủ lực cũng bị đánh dạt sâu về Trà Vinh, U Minh. Trong khi số lượng du kích sụt, tân binh lại không tuyển được ngay cả trong những “xă giải phóng”… Trong Chiến dịch Mậu Thân, ông Vơ Văn Kiệt đă vào sâu tận nội thành Sài G̣n, chiều mùng Một Tết, ông đă có mặt ở một xóm nhỏ gần đ́nh B́nh Đông, Quận Tám. Tiền phương của Sài G̣n cũng nhận được những lệnh liên tiếp tập kích vào đô thị để “giành thắng lợi tối đa”. Những người trực tiếp ở chiến trường như ông đă phải chứng kiến sự hy sinh quá lớn. Ông nói: “Lúc đó tôi đau đến mức nhiều lần bật khóc”. Hơn 11 vạn quân giải phóng đă hy sinh trên toàn chiến trường, c̣n thương vong của dân chúng th́ không thể nào tính được. Phần lớn căn cứ địa Quân Giải phóng ở nông thôn đă trở thành “đất trắng”. Chưa bao giờ quân Giải phóng ở trong t́nh trạng như vậy, có những sĩ quan chỉ huy cấp sư đoàn cũng chịu không nổi, phải ra đầu hàng chính quyền Sài G̣n.

Ngày 9-2-1999, khi nói chuyện với các tướng lĩnh làm Tổng kết Chiến tranh, Tướng Giáp nói: “Có đồng chí chỉ huy gửi điện cho tôi nói rơ t́nh h́nh bộ đội tan tác, ẩn nấp trong rừng mặn ngập nước ở phía Đông Nam Sài G̣n, tướng không chỉ huy được quân nữa. Ở Huế, anh Trần Văn Quang (5) gửi tôi một bức điện dài 16 trang, xin rút. Tôi đồng ư và viết điện trả lời. Sáng hôm sau giao ban thấy bức điện vẫn để nguyên trên bàn, tôi hỏi tại sao chưa gửi th́ anh Văn Tiến Dũng trả lời: ‘Việc này hệ trọng phải đem ra bàn bạc trong tập thể Quân ủy đă, ḿnh anh quyết định sao được’. May mà lúc đó ở dưới, anh em đă rút. Đồng chí Tư Chu, chỉ huy Biệt Động Sài G̣n, cũng có kể cho tôi nghe thực cảnh bộ đội sau năm 1968. Thiệt hại to lớn quá. Giá đắt quá! Về Huế th́ anh Đặng Kinh (6), khi ấy là phó tư lệnh Mặt trận, biết quá rơ. Sau này anh ấy ra Bộ báo cáo và để lại nhiều tài liệu quan trọng. Những băn khoăn về Mậu Thân c̣n dai dẳng, thời gian cũng không thể che lấp được. Lịch sử đang đợi những người c̣n sống phải làm rơ, nhất là những người có chức, có quyền (8).

A picture containing text, group, old, posing

Description automatically generated

Hai nhân vật mà tác giả Huy Đức đề cập ở trên là ông Đặng Kinh và ông Trần Văn Quang. Ông Đặng Kinh vào thời điểm đó là phó tư lệnh Mặt trận. Ông Trần Văn Quang th́ tác giả không đề cập đến chức vụ. Nhưng thông tin trên mạng cho hay, ông Trần Văn Quang lúc ấy mang quân hàm Thiếu tướng nắm quyền chỉ đạo chung toàn quân khu Trị Thiên trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968. Riêng cuộc tấn công mục tiêu chính là thành phố Huế đă thành lập một Ban Chỉ huy trực tiếp riêng.

Ngoài hai nhân vật trên, c̣n có ông Lê Tư Minh. “Năm 1966 ông làm Phó Bí thư khu ủy Trị Thiên kiêm Bí thư Thành ủy Huế. Trong cuộc tổng tiến công nổi dậy Xuân 68 giữ chức chỉ huy trưởng bộ chỉ huy chiến dịch mặt trận Huế.” Ông Lê Tư Minh qua đời năm 1990. (7)

Trong bài viết của Huy Đức như đă dẫn, ông đă trích dẫn nhiều nguồn tài liệu nói về Mậu Thân Huế, trong đó có đề cập đến chuyện “có nhiều người Huế đă bị bắt đi, bị thủ tiêu”, nhưng không thấy ông hoặc bất kỳ đoạn trích dẫn nào đề cập ǵ về chuyện khoảng chừng ba ngàn năm trăm nguời bị chôn sống ở Huế.

Tôi có một người bạn thân, gốc Huế. Người này có quen biết với tác giả Huy Đức. Khi Huy Đức phát động phong trào ủy lạo gia đ́nh các chiến sĩ của cả hai miền Nam Bắc đă hy sinh trong lúc chiến đấu bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước sự xâm lược của Trung Quốc, người bạn tôi ủng hộ và có đóng góp cho phong trào này, đó là cơ duyên cho hai người gặpquen nhau. Trong lần sau cùng hai người gặp nhau ở Sài G̣n, người bạn tôi có hỏi thẳng Huy Đức: “Tại sao trong “Bên Thắng Cuộc“, anh viết về biến cố Mậu Thân nhưng anh không đề cập ǵ đến chuyện khoảng ba ngàn năm trăm người dân Huế bị chôn sống trong biến cố đó.”

Huy Đức trả lời như sau:

-         “Những người chịu trách nhiệm trực tiếp trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân, nếu họ không c̣n th́ con cái họ vẫn c̣n đó, uy quyền và thế lực rất mạnh. Đề cập đến chuyện này trong bối cảnh hiện nay là rất nguy hiểm, vô cùng nguy hiểm.”

Đó có lẽ là lư do Huy Đức phải tránh đề cập đến chuyện chôn sống người ở Huế năm 1968 trong cuốn sách của ông.

A picture containing text

Description automatically generated

Lịch sử đă sang trang. Chuyện ǵ đă xảy ra, đă xảy ra. Nhưng sự cố khoảng ba ngàn năm trăm người dân xứ Huế bị chôn sống trong biến cố Mậu Thân 1968 cần phải được minh bạch. Chỉ cần công khai thừa nhận đó là một điều có thật, đă xảy ra ở Huế năm 1968. Không lấp liếm, không dối gian, không trốn chạy sự thật, để người dân Huế - đặc biệt những người có thân nhân bị thảm sát trong mùa xuân năm Mậu Thân đó - được nguôi ngoai, và những nén hương thắp ở Huế những đêm khuya ngày Tết vọng về người thân của họ, được đốt lên trong một tâm trạng an nhiên, thanh thoát, ch không phải bị đè nén, uẩn ức trong ḷng như mấy chục năm qua.

 

Hồ Ngọc Ánh

Tháng Hai, 2026.

 

(1) Nhà báo Trương Huy San (Osin Huy Đức) bị bắt hôm tháng 6/2024. Ông bị kết án 30 tháng tù giam vào ngày 27/02/2025 về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" theo Khoản 2, Điều 331 Bộ luật H́nh sự. Được biết, trả lời phỏng vấn tại Kensington, California năm 2013, ông Osin Huy Đức đă nói như sau: “Không một người tự do nào lại chọn nhà tù. Nhưng trong một số trường hợp, để bảo vệ quyền tự do, không thể tránh được nhà tù. Nếu mọi người đều tránh tù tội, chúng ta sẽ không bao giờ có được tự do.”

(2) “Bên Thắng Cuộc”, OSINBOOK 2012. ISBN978-I-62988-473-8. ben-thang-cuoc-quyen-binh-final.pdf (menlosecurity.com). Đoạn này tác giả trích một đoạn trong hồi kư của Tướng Vơ Nguyên Giáp, “Vơ Nguyên Giáp, Tổng Tập Lê Duẩn, Nhà xuất bản Sự Thật 2002.”

(3) Theo GS Nguyễn Lư-Tưởng, cựu Dân Biểu VNCH, đại diện cho cử tri tỉnh Thừa Thiên, một nhân chứng trong vụ Thảm sát ở Huế Mậu Thân ở Huế, trong cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam (đặc biệt Tết Mậu Thân 1968) tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15/3/2008.) Ông cho hay Tỉnh trưởng tỉnh Thừa Thiên lúc đó là Trung tá Phan Văn Khoa, chứ không phải là “PHẠM” Văn Khoa như trong tác phẩm “Quyền Bính” viết ở trang 162. https://vietbao.com/a156078/nhan-chung-mau-than-hue-gs-nguyen-ly-tuong-ke-lai

(4) Chú thích của người viết: cờ xanh - đỏ - sao vàng là cờ của Mặt trận Giải phóng Miền Nam, một mặt trận chính trị bù nh́n do đảng Cộng sản Miền Bắc thành lập. Mặt trận này đă bị đảng Cộng sản Việt Nam chính thức giải tán sau năm 1975. Trong biến cố Mậu Thân năm 1968, cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam được treo lên Kỳ đài Phú Văn Lâu một thời gian, có nguồn tin nói bắt đầu sáng mồng 2 tết, nguồn tin khác nói ngày mùng 3 tết...

(5) Từ năm 1978 đến 1981, ông Trần Văn Quang giữ chức thứ trưởng Bộ Quốc pḥng và qua đời năm 2013. https://baocantho.com.vn/thuong-tuong-tran-van-quang-va-nghia-tinh-sau-nang-voi-nam-bo-a95481.html

(6) Đầu năm 1967, Phó Tư lệnh Đặng Kinh với tư cách là chỉ huy trực tiếp tại mặt trận đă thay mặt Bộ Tư lệnh Quân khu báo cáo t́nh h́nh chiến trường với Quân ủy Trung ương và đưa ra đề nghị đánh chiếm thành phố Huế. Đến tháng 12, Bí thư Quân ủy Trung ương đương thời là Đại tướng Vơ Nguyên Giáp đă đồng ư với đề nghị trên và xác định Huế là nơi trọng điểm thứ 2 chỉ sau Sài G̣n trong quy mô Tổng công kích và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_Vi%E1%BB%87t_(b%C3%A1o)

(7) https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_T%C6%B0_Minh

(8) Chữ in đậm trong bài này là sự cố ư của người viết, nguyên bản không có.